Hiển thị các bài đăng có nhãn bancobiet. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bancobiet. Hiển thị tất cả bài đăng

20 thg 6, 2014

Xử lý bệnh sốt xuất huyết ở trẻ.


Thời tiết Việt Nam đang vào hè với những cơn mưa đầu mùa, không khí trở nên ẩm hơn tạo điều kiện cho muỗi sinh sản và phát triển. Vì thế, nguy cơ sốt xuất huyết ở trẻ là rất cao nếu các bậc cha mẹ không chú ý tối đa đến việc sinh hoạt, môi trường sống thoáng đãng sạch sẽ nhằm hạn chế sự tiếp xúc với các loại muỗi mang mầm bệnh. Bài viết dưới đây sẽ phần nào giải đáp thắc mắc về căn bệnh sốt xuất huyết cũng như bật mí những mẹo nhỏ phòng ngừa & điều trị cho các bé:

Sốt xuất huyết là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do siêu vi trùng tên là Dengue gây ra. Bệnh lây do muỗi vằn hút máu truyền siêu vi trùng từ người bệnh sang người lành.
Các bố mẹ chú ý là muỗi vằn có nhiều khoang trắng ở lưng và chân, thường sống ở trong nhà, đậu trong những chỗ tối như gầm bàn, gầm giường, hốc tủ. Quần áo treo trên vách…, chích hút máu người cả ngày lẫn đêm.

Vì sao sốt xuất huyết lại nguy hiểm ở trẻ?
- Xuất huyết xảy ra quanh năm, đặc biệt vào mùa mưa, có thể bộc phát thành dịch đe doạ sinh mạng các bé.
- Bệnh có thể trở nặng bất ngờ, gây tử vong cao.
- Bệnh chưa có thuốc trị đặc hiệu và thuốc phòng ngừa.

Triệu chứng nếu bé bị sốt xuất huyết:
- Sốt (nóng) cao 39 – 40 độ C, đột ngột, liên tục trong 3-4 ngày liền.
- Xuất hiện tình trạng xuất huyết. Có nhiều dạng xuất huyết:
+ Xuất huyết dưới da: trên mặt da xuất hiện những chấm nhỏ màu đỏ, đốm đỏ hay vết bầm. Phân biệt những vết này với vết muỗi cắn bằng cách căng da chung quanh chấm đỏ, nếu chúng vẫn còn là do xuất huyết, ngược lại nếu biến mất thì đó là vết muỗi cắn.
+ Chảy máu cam, chảy máu chân răng, nướu răng.
+ Ói hoặc đi cầu ra máu (nước ói màu nâu, phân lợn cợn như bã cà phê hoặc đỏ tươi).
- Đau bụng.
- Sốc là dấu hiệu nặng, thường xuất hiện từ ngày thứ 3-6 của bệnh, đặc biệt lúc trẻ đang sốt cao chuyển sang hết sốt và có thể xảy ra kể cả khi không thấy rõ dấu hiệu xuất huyết. Dấu hiệu sốc gồm: Trẻ mệt, li bì hoặc vật vã; Chân tay lạnh; Tiểu ít, Có thể kèm theo ói hoặc đi cầu ra máu.

Cách xử trí: khi có dấu hiệu nghi ngờ sốt xuất huyết, cần đưa ngay người bệnh đế cơ sở y tế gần nhất để được khám, chẩn đoán, điều trị và hướng dẫn theo dõi.
Nếu được điều trị ngoại trú tại nhà, bé có thể dùng paracetamol hạ sốt khi sốt cao hơn 39 độ, không dùng các thuốc hạ sốt loại aspirin, analgin, ibuprofen. Cho bé uống dung dịch oresol, nước trái cây, nước cháo... Và nên đi khám lại mỗi ngày cho đến khi hết sốt 2 ngày.

Khi có các dấu hiệu như: đang sốt mà nhiệt độ đột ngột hạ xuống, chân tay lạnh, bứt rứt, vật vã hoặc li bì, da ẩm, vã nhiều mồ hôi, nôn ói nhiều, đau bụng nhiều, tiểu ít và có các biểu hiện xuất huyết nặng, cha mẹ nên đưa bé đến ngay bệnh viện để tránh các biến chứng rủi ro có thể gặp.

Cách phòng bệnh sốt xuất huyết:
Cho trẻ mặc quần áo dài tay, ngủ mùng cả ban đêm lẫn ban ngày. Không để trẻ nơi thiếu ánh sáng, ẩm thấp để tránh muỗi chích (đốt).
Thoa thuốc chống muỗi lên những vùng da lộ ra ngoài để bảo vệ trẻ mọi lúc, cả ngày lẫn đêm.
Đậy kín lu, vại, hồ, bể chứa nước, không tạo nơi cho muỗi đẻ và hàng tuần nên cọ rửa với bàn chải để trứng muỗi rơi ra; thả cá 7 màu diệt lăng quăng (bọ gậy).
Dọn dẹp nhà cửa ngăn nắp, sạch thoáng, không treo quần áo làm chỗ cho muối trú đậu, loại bỏ các vật chứa nước đọng (gáo dừa, lon, đồ hộp, ly, chén, chai lọ bể, vỏ xe…), thay nước bình bông mỗi ngày, đổ dầu hôi hoặc pha nhiều muối vào chén nước chống kiến chân tủ thức ăn để triệt nơi sinh sản của muỗi. Có thể dùng thuốc diệt muỗi hoặc nhang trừ muỗi.

Biên tập & thực hiện: Anh L.P Thai
Nguồn: tổng hợp từ Internet.

18 thg 6, 2014

Bệnh viêm não ở trẻ em.

Từ đầu năm đến nay, nhất là vào đầu mùa hè, số bệnh nhi viêm não tăng mạnh với số lượng hàng trăm trẻ bị viêm não, màng não. Bệnh do nhiều loại virut gây ra như : virut viêm não Nhật Bản, các virut đường ruột, virut thủy đậu, quai bị… Bài viết dưới đây xin giới thiệu viêm não do Arbovirus là loại virut thường gây bệnh viêm não trong mùa hè để các bậc phụ huynh biết cách phát hiện sớm, điều trị kịp thời và phòng bệnh hiệu quả cho bé.

Côn trùng đốt truyền bệnh viêm não cho người
Viêm não do Arbovirus là bệnh xảy ra vào mùa nắng nóng, như mùa hè - thu. Mầm bệnh có ở những động vật có vú nhỏ và một số loại chim, ngựa..., côn trùng đốt động vật rồi đốt người truyền bệnh cho người. Tổn thương chủ yếu là viêm màng não, viêm não, hôn mê, thiểu năng trí tuệ, liệt thần kinh sọ não... với tỉ lệ tử vong cao. Các nghiên cứu cho thấy: virut loại này đã gây ra viêm não ở châu Mỹ, viêm não St. Louis, viêm não Nhật Bản B và các bệnh khác như sốt Dengue, sốt vàng, sốt xuất huyết.
Mùa hè do nóng bức, nhiều người ngại mắc màn khi ngủ nên đã tạo điều kiện cho muỗi và côn trùng đốt mà bị mắc bệnh. Trẻ em ở thành thị cũng như các vùng xa xôi hẻo lánh cũng vì nóng bức mà mặc quần đùi, áo cộc tay hoặc cởi trần nên nguy cơ bị muỗi và côn trùng đốt càng cao, càng dễ mắc bệnh.

Dấu hiệu phát hiện bệnh
Một đứa trẻ bị viêm não điển hình thường gồm các dấu hiệu như sau: sốt, choáng váng, đau họng, đau bụng, sổ mũi, hắt hơi, ho. Sau đó bệnh nhi thấy đau đầu, có dấu hiệu màng não, sợ ánh sáng và nôn. Nếu tổn thương não sâu hơn bệnh nhi có các biểu hiện: ngủ lịm, hôn mê, thiểu năng trí tuệ (chẳng hạn bạn đố trẻ làm toán thì chúng sẽ thực hiện sai 7 phép trừ liên tục). Trường hợp bệnh nặng hơn, trẻ bị rối loạn định hướng và hôn mê. Một số triệu chứng thường gặp khác là rung giật, mất phản xạ ở bụng, liệt dây thần kinh sọ não, liệt nửa người, khó nuốt...
Một số bệnh nhi có sốt đột ngột, co giật ngoại ý và các triệu chứng thần kinh trung ương. Thường gặp dấu hiệu cổ cứng, kích thích màng não, run, co giật, liệt dây thần kinh sọ, liệt chân tay, tăng phản xạ gân xương ở sâu, mất phản xạ nông và có phản xạ bệnh lý. Viêm não cấp tính thường kéo dài từ 1- 3 tuần, song sự hồi phục là rất chậm, phải mất từ vài tuần đến vài tháng bệnh nhi mới hồi phục được chức năng tối đa. Bệnh nhi thường khó tập trung, mệt, run và thay đổi tính cách trong giai đoạn phục hồi.
Để chẩn đoán chắc chắn cần phối hợp với bác sĩ để chọc lấy nước não tủy bệnh nhi xét nghiệm tìm virut gây bệnh. Hơn nữa còn cần phải làm các xét nghiệm để phân biệt bệnh viêm não do Arbovirus với viêm não do các virut khác như herpes simplex, quai bị, bại liệt hay các virut đường tiêu hóa khác và HIV. Phân biệt với các bệnh gây viêm não có kèm phát ban ở trẻ em như sởi, thủy đậu, tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn, rubeon. Ngoài ra còn phân biệt với viêm não sau khi dùng vaccin như thể hủy myelin sau dùng vaccin phòng dại, sởi, ho gà; viêm não do nhiễm độc thuốc, độc chất, độc tố vi khuẩn như do vi khuẩn lỵ týp 1 và hội chứng Reye. Bởi vậy sự hợp tác của cha mẹ sẽ giúp bác sĩ nhanh chóng chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời cho bé.
Trường hợp trẻ bị viêm não nhưng phát hiện muộn hoặc bệnh nặng có thể gây ra các biến chứng: viêm phế quản phổi, bí tiểu và nhiễm khuẩn đường tiết niệu, loét lưng hay gót chân do nằm lâu. Một số di chứng muộn là di chứng tâm thần, hội chứng Parkinson và động kinh.

Những điều cần biết trong điều trị và phòng bệnh
Từ trước đến nay vẫn chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu đối với bệnh viêm não do virut. Tuy đã có thuốc kháng virut nhưng thuốc chỉ có tác dụng với một số loại virut chứ không phải kháng tất cả các virut. Vì vậy việc điều trị chủ yếu là hỗ trợ, nâng cao thể trạng bệnh nhi và chữa triệu chứng là rất quan trọng. Người ta có thể dùng phương pháp làm giảm áp lực nội sọ và dùng mannitol theo dõi áp lực buồng não thất. Cần hiểu rõ điều đó để thực hiện khâu chăm sóc nâng cao thể trạng cho trẻ theo hướng dẫn của bác sĩ. Sự phục hồi của bệnh có thể kéo dài vài tháng, nên sự chăm sóc của bạn cho bệnh nhi là rất cần thiết trong thời gian này.


Phương châm đối phó với bệnh viêm não do virut loại này là “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Có thể phòng tránh viêm não cho trẻ bằng các biện pháp đơn giản và hiệu quả sau đây: tránh muỗi đốt bằng các cách như dùng nhang xua muỗi, mặc quần áo dài để bảo vệ trẻ. Diệt lăng quăng bằng các phương pháp dân gian như thả cá bảy màu vào các nơi đựng nước; đậy kín các vật chứa nước không cho muỗi vào đẻ. Dọn dẹp nhà cửa gọn gàng, loại bỏ các nơi trú ẩn của muỗi, phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh, loại bỏ các vật đựng nước như gáo dừa, ống bơ... là nơi muỗi có thể để trứng. Phun thuốc diệt muỗi định kỳ để diệt muỗi và côn trùng gây bệnh khác. Đối với bệnh viêm não đã có vaccin như viêm não Nhật Bản B thì dùng vaccin để phòng bệnh: trẻ em và cả người lớn cần tiêm vaccin viêm não Nhật bản B để bảo vệ khỏi nguy cơ gây bệnh.

Ths.Trần Minh Thanh
Biên tập: Hoàng Vân

17 thg 6, 2014

Bệnh tay chân miệng ở trẻ em


Với đặc điểm nóng ẩm của mùa hè là thời điểm thuận lợi của nhiều bệnh, trong đó đáng lưu ý nhất là các bệnh do nhiễm virut, vi khuẩn, ký sinh trùng. Ở trẻ em, do sức đề kháng kém, hệ miễn dịch chưa hoàn thiện, nên vào mùa nắng nóng có nguy cơ mắc bệnh cao. Tiếp tục đồng hành cùng quý phụ huynh và các bé, chuyên mục kiến thức y học thường thức dành cho trẻ xin gửi đến một số thông tin về bệnh tay chân miệng.

Bệnh tay chân miệng là gì?
Bệnh tay chân miệng là một nhiễm trùng do virus xảy ra ở trẻ nhỏ. Virus gây bệnh bao gồm, các loại virus thuộc nhóm đường ruột, gồm có Coxsackie, Echo và các virus đường ruột khác, trong đó hay gặp là virus đường ruột type 71 (EV71) và Coxsackie A16.

Vì sao tay chân miệng lại nguy hiểm ở trẻ?
- Tay chân miệng là một bệnh nhiễm virus cấp tính, có khả năng gây thành dịch lớn.
- Tất cả những người chưa từng mắc bệnh tay chân miệng đều có nguy cơ nhiễm bệnh, nhưng bệnh xảy ra chủ yếu ở trẻ em dưới 10 tuổi, thường gặp nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi.
- Bệnh cũng có thể diễn biến nặng như viêm màng não, viêm não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong.
- Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và vaccin phòng ngừa.

Bệnh có triệu chứng nhận biết như thế nào?
- Bệnh thường bắt đầu với các biểu hiện như: Sốt, chán ăn, mệt mỏi và thường xuyên bị đau họng.
- Một hoặc 2 ngày sau khi khởi phát sốt, xuất hiện đau trong miệng, có đốm đỏ như phỏng rộp và sau đó trở thành vết loét. Vết loét thường nằm trên lưỡi, nướu răng (lợi) và niêm mạc má.
- Phát ban trên da, không ngứa trong 1-2 ngày với những đốm màu đỏ không nổi hoặc nổi lên, có khi có rộp da. Ban thường nằm trong lòng bàn tay và lòng bàn chân; cũng có thể xuất hiện trên mông và/hoặc ở cơ quan sinh dục.
- Người bị bệnh tay chân miệng có thể không biểu hiện triệu chứng, hoặc có thể chỉ có phát ban hay chỉ loét miệng.
- Trong một số ít trường hợp, bệnh có thể diễn biến nhanh với các triệu chứng về thần kinh, hô hấp và nhanh chóng dẫn đến tử vong.

Bệnh có những con đường lây truyền nào?
- Bệnh tay chân miệng lây chủ yếu lây truyền qua đường tiêu hóa.
- Virus gây bệnh tay chân miệng còn có thể lây nhiễm từ người sang người qua tiếp xúc trực tiếp với dịch mũi, họng, nước bọt, chất dịch từ mụn nước, hoặc phân của người bị nhiễm bệnh.
- Người bị bệnh có thể làm lây lan bệnh nhiều nhất trong tuần đầu tiên của bệnh, nhưng thời gian lây nhiễm có thể kéo dài trong vài tuần (do virus vẫn tồn tại trong phân).
- Phụ nữ mang thai có thể truyền bệnh cho em bé nếu họ bị nhiễm một thời gian ngắn trước khi sinh đẻ hoặc có các triệu chứng tại thời điểm sinh.
- Lưu ý, bệnh không lây truyền từ người tới vật nuôi/động vật và ngược lại.

Làm thế nào để phát hiện sớm sau khi tiếp xúc?
- Thời gian ủ bệnh thông thường từ khi nhiễm bệnh tới khi khởi phát triệu chứng là 3-7 ngày. Sốt là triệu chứng đầu tiên của bệnh tay chân miệng, sốt thường kéo dài 24-48 giờ.

Điều trị bệnh như thế nào?
- Hiện nay, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh này.
- Bệnh tay chân miệng thường là một bệnh nhẹ, hầu hết tất cả bệnh nhân hồi phục trong vòng 7 đến 10 ngày mà không cần điều trị và thường không gặp các biến chứng.
- Tuy nhiên, nên cho trẻ uống nhiều nước và có thể được điều trị triệu chứng để giảm sốt và giảm đau từ vết loét, phòng biến chứng (viêm màng não, viêm não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong, thường do virus EV71 gây ra).

Vậy hướng phòng tránh bệnh như thế nào?
- Cho đến nay, chưa có vaccine phòng bệnh tay chân miệng. Nguy cơ lây nhiễm bệnh có thể được giảm thiểu bằng việc thực hiện tốt vệ sinh cá nhân và chăm sóc y tế kịp thời cho những trẻ em bị bệnh.

- Các biện pháp phòng ngừa bao gồm:
+ Rửa tay thường xuyên với xà phòng trước khi chuẩn bị thức ăn và ăn uống, trước khi cho trẻ nhỏ ăn, sau khi sử dụng nhà vệ sinh và sau khi thay tã cho trẻ, đặc biệt là sau khi tiếp xúc với các bọng nước;
+ Làm sạch môi trường bị ô nhiễm và các vật dụng bẩn (bao gồm cả đồ chơi) với xà phòng và nước, sau đó khử trùng bằng các chất tẩy rửa thông thường;
+ Tránh tiếp xúc gần (ôm, hôn, dùng chung đồ dùng…) với trẻ em bị bệnh tay chân miệng cũng có thể giúp giảm nguy cơ nhiễm bệnh;
+ Không cho trẻ sơ sinh và trẻ em bị bệnh đi mẫu giáo, nhà trẻ, trường học hoặc nơi đông người cho tới khi khỏe hẳn. Theo dõi chặt chẽ tình trạng bệnh và chăm sóc y tế kịp thời nếu trẻ sốt cao, li bì, mất tỉnh táo; che miệng và mũi khi hắt hơi và ho; xử lý khăn giấy và tã lót đã dùng bằng cách bỏ vào thùng rác và thải bỏ rác đúng cách; luôn lau dọn nhà cửa, nhà trẻ, trường học sạch sẽ.

Biên tập: Nguyễn Trà My

24 thg 1, 2014

TĂNG CƯỜNG SỨC ĐỀ KHÁNG CHO BÉ VÀO MÙA LẠNH

Để bé có một mùa đông ấm áp, khỏe mạnh thì việc tăng cường sức đề kháng và hệ miễn dịch thật tốt giúp đánh bật các mầm bệnh và tác nhân gây hại cho sức khỏe xung quanh bé. Vì vậy, một chế độ sinh hoạt hợp lý và dinh dưỡng đầy đủ, cân đối chính là chìa khóa gỡ bỏ mọi lo lắng của mẹ.

Tạo thói quen sinh hoạt cho bé
- Mọi sinh hoạt của bé cần phải có một thời gian biểu hợp lý. Hãy để bé sinh hoạt một cách điều độ, ăn đúng bữa và ngủ đúng giờ. Điều đó sẽ rất có lợi cho các cơ quan trong cơ thể bé có thể làm việc hiệu quả hơn, tăng cường hệ miễn dịch trong bé.
- Ngoài ra, cần lưu ý là giấc ngủ của bé rất quan trọng vì khi ngủ, các cơ quan trên cơ thể sẽ được nghỉ ngơi sau một ngày hoạt động. Có rất nhiều cha mẹ vì sợ con nhiễm lạnh vào ban đêm mà để bé măc áo dày cộp và đóng kín cửa, điều đó không hoàn toàn đúng. Cách nên làm là các mẹ hãy để phòng ngủ kín gió nhưng vẫn hé cửa để con có một không gian thật thoáng cho giấc ngủ sâu. Mặc cho bé một chiếc áo len mỏng, điều đó sẽ thực sự làm bé thoải mái hơn đó các mẹ ạ.

Vệ sinh sạch sẽ
Thời tiết lạnh cũng chính là lúc vi khuẩn hoạt động mạnh hơn. Vì vậy, dù thời tiết có khắc nghiệt các mẹ đừng quên nhắc bé vệ sinh sạch sẽ để giảm nguy cơ tiếp xúc với các mầm bệnh trong mùa này. Pha một chút nước ấm khi bé rửa tay trước khi ăn hoặc đánh răng cũng là cách làm giảm nguy cơ nhiễm lạnh, giúp bé không ngại tiếp xúc với nước vào mùa đông này nữa.

Vận động nhiều hơn
Nhiều bé vào mùa đông, do thời tiết lạnh nên có thói quen lười vận động. Các mẹ nên khuyến khích các bé năng ra ngoài và tiếp xúc với môi trường nhiều hơn, để cơ thể được hoạt động cũng như thích nghi được với mọi thay đổi của môi trường, và đầy lùi các tác nhân gây bệnh.

Chế độ dinh dưỡng đầy đủ & cân đối
- Để trẻ có một sức đề kháng thật tốt thì bữa ăn của bé phải đầy đủ các chất dinh dưỡng. Phân bổ linh hoạt và tăng cường các thực phẩm như tôm, thịt, trứng, cá, rau xanh… (đạm, chất béo,…).

- Không nên ép trẻ ăn quá no, hay quá nhiều một chất. Bởi hiện nay, nhiều trẻ dưới 5 tuổi đang lâm vào tình trạng ăn nhiều nhưng vẫn thiếu cân, chỉ đáp ứng 30-50% nhu cầu thực của trẻ. Ăn cân đối và đa dạng thực phẩm chính là biện pháp bổ sung dinh dưỡng tối ưu nhất.
- Ngoài ra, đối với các trẻ suy dinh dưỡng, thiếu cân, ngoài các chất dinh dưỡng cần thiết thì việc bổ sung vi chất cần thiết là điều quan trọng. Các vitamin như Vitamin A, C, E có tác dụng tích cực chống oxy hóa, giúp cho các tế bào miễn dịch hoạt động bền vững, tăng khả năng đáp ứng với các phản ứng miễn dịch. Các nguyên tố vi lượng như kẽm, selen cần thiết cho sự phát triển của hệ miễn dịch và điều hòa các thành phần của đáp ứng kháng viêm.

Sưu tầm nguồn: dantri.com.vn
Biên tập: Lam Tuong Nguyen

19 thg 1, 2014

CHỨNG MỘNG DU Ở TRẺ NHỎ


Ở trẻ nhỏ, mộng du phổ biến hơn nhiều so với người lớn, vì đa số những người bị mộng du lớn lên sẽ tự khỏi trước tuổi thiếu niên. Mộng du có thể là do di truyền.

Những nhân tố khác có thể gây ra tình huống mộng du (hiếm):
- Thiếu ngủ hay mệt mỏi
- Giờ giấc ngủ thất thường
- Bệnh hay sốt
- Một vài loại thuốc
- Stress

Những hành vi trong lúc mộng du
Tất nhiên, triệu chứng rõ ràng nhất là ra khỏi giường và đi lại khi vẫn còn trong giấc ngủ. Nhưng những người trẻ tuổi mộng du có thể kèm theo:
- Nói chuyện trong khi ngủ
- Khó thức giấc
- Có vẻ choáng váng
- Vụng về, lóng ngóng
- Không phản ứng khi được bắt chuyện
- Ngồi trên giường và lặp đi lặp lại những hành động
Có thể có người mộng du khi mắt vẫn mở, nhưng họ không nhìn thấy như lúc tỉnh táo. Họ thường nghĩ mình đang ở một căn phòng khác, ở một nơi khác.

Mộng du có hại không?
- Mộng du bản thân nó không có hại. Nhưng những tình huống mộng du có thể nguy hiểm vì một đứa trẻ mộng du trong tình trạng đang ngủ và không ý thức được mình đang làm gì.
- Mộng du thường không phải là dấu hiệu của sự bất thường cảm xúc hay tâm lý, và không gây tổn hại nào về xúc cảm. Người mộng du có thể sẽ không nhớ gì về việc đi dạo giữa đêm.

Những cách giúp giảm thiểu tình huống mộng du:
- Cho trẻ đi ngủ đúng giờ và nghe nhạc nhẹ nhàng, thư giãn
- Hình thành thời gian ngủ và ngủ trưa đều đặng - cả thời gian đi ngủ và thức dậy
- Cho trẻ đi ngủ sớm hơn, để cải thiện việc buồn ngủ quá lâu
- Đừng cho trẻ uống quá nhiều vào buổi chiều và chắc chắn rằng trẻ đã đi vệ sinh trước khi đi ngủ
- Tránh uống caffeine gần giờ ngủ
- Đảm bảo phòng ngủ yên tĩnh, ấm cúng, dễ ngủ. Tránh tiếng ồn khi trẻ đang ngủ.

Nếu phát hiên trẻ đang mộng du, đừng sợ. Chỉ cần dẫn trẻ về giường an toàn và nhẹ nhàng.

Trích nguồn: Bs.Elana Pearl Ben-Joseph
Biên tập: Lam Tuong Nguyen

Hãy tham gia cùng chúng tôi tại:
và

11 thg 1, 2014

Lắng nghe nhịp thở của bé sơ sinh.


Các bé sơ sinh thường có xu hướng thở không đều luân phiên giữa nhanh và chậm. Nếu có bất cứ âm thanh phát ra trong khi bé thở, cha mẹ cần lưu ý sự khác biệt giữa các loại âm thanh nhằm giúp bất cứ vấn đề bất thường về đường hô hấp của bé.

Một tắc nghẽn nhỏ trong lỗ mũi có xu hướng tạo ra tiếng huýt sáo, và khi hút ra, âm thanh này sẽ không còn nữa. Trẻ sơ sinh thở ra bằng mũi mà không dùng miệng. Đây là một điều tốt đáng lưu ý vì bé có thể thở và ăn cùng một lúc . Tuy nhiên , mũi nhỏ bé của bé sẽ có đường dẫn khí nhỏ, do đó, một chút chất nhầy hoặc sữa khô có thể làm việc thông qua hơi thở nhỏ hơn, gây ra một âm thanh nghe như tiếng huýt sáo, đôi khi, không khí khó có thể đẩy từ trong ra ngoài.

- Khóc khàn và ho với cường độ mạnh
Tắc nghẽn trong thanh quản (khí quản), thường là do chất nhầy sẽ tạo ra tiếng khàn và ho . Điều này có thể là dấu hiệu của viêm thanh quản , nhiễm trùng ống thanh quản, khí quản và phế quản.

- Âm thanh khàn khàn sâu trong cổ
Sự tắc nghẽn trong khí quản (đó là ở cổ) làm cho một âm thanh khàn khàn sâu trong hơi thở. Âm thanh này là hiếm khi do tắc nghẽn vì khí quản khá lớn. Tuy nhiên, nó được gây ra bởi một tình trạng vô hại thường gọi là tracheomalacia, khi các mô của khí quản trở mềm mại và linh hoạt, tạo thành tiếng khi trẻ hít thở vào và thở ra. Điều này không thực sự gây rắc rối đáng kể với hơi thở của trẻ.

- Ho sâu.
Tắc nghẽn trong các phế quản lớn dẫn vào phổi khiến bé hay bị ho rất sâu.

- Thở khò khè
Nếu các tiểu phế quản (đường hô hấp nhỏ đến từ phế quản) bị nghẽn khiến bé sẽ thở khò khè, tương tự như viêm tiểu phế quản hoặc hen suyễn.

- Thở dốc.
Chất lỏng trong phế nang gây bệnh viêm phổi, nhiễm trùng do virus hoặc vi khuẩn. Viêm phổi gây ra triệu chứng thở dốc nhanh, thỉnh thoảng bé có thể bị tím tái, ho dai dẳng .

Lời khuyên cho các bậc phụ huynh:
Thường xuyên quan sát hơi thở của bé để đánh gia các hiện tượng và âm thanh bất thường, cảm nhận sự thở nhanh hay chậm bằng cách đếm bao nhiêu hơi thở trong một phút. Điều này sẽ giúp cha mẹ phát hiện ra một vấn đề một cách kịp thời và chính xác.

Dấu hiệu của các vấn đề hô hấp có khả năng đáng lo ngại của bé bao gồm:
- Tốc độ tăng liên tục của hơi thở (lớn hơn 70 lần trong một phút hoặc hơn.
- Em bé gầm gừ để cố gắng mở đường hô hấp bị chặn.
- Lỗ mũi của em bé nở to trong thời gian bùng thở
- Các cơ bắp ở ngực của em bé (dưới xương sườn ) và cổ được nhìn thấy co rút lại rõ ràng khi thở ra hít vào nhiều hơn bình thường.
- Bé trở nên tím tái nghĩa là máu vẫn màu xanh vì không nhận được đủ oxy từ phổi (như viêm phổi).
- " Suy hô hấp " thường đi kèm với sự sụt giảm đáng kể lượng thức ăn nên bé sẽ bú kém hơn bình thường.
- Hầu hết các bệnh nhiễm trùng phổi sẽ gây ra một cơn sốt do đó luôn kiểm tra nhiệt độ của bé là một điều cần thiết.

Biên dịch và tổng hợp: Anh LP Thai.
Nguồn: http://www.webmd.com/parenting

8 thg 1, 2014

BỆNH THỦY ĐẬU VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT



Bạn biết gì về bệnh thủy đậu?
Đây là một loại bệnh truyền nhiễm gây ra do siêu vi varicella zoster, bệnh lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp. Khi một người bị bệnh thủy đậu ho hay hắt hơi, vô số vi rút sẽ được “bắn” vào không khí và nếu chẳng may hít phải, bé của bạn sẽ có nhiều khả năng bị mắc bệnh. Trong một số ít trường hợp, bệnh cũng có thể lây khi tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ bóng nước trên cơ thể người bệnh thủy đậu.
Dấu hiệu chính của bệnh là những bóng nước lớn nổi trên mặt da và niêm mạc. Người bệnh thủy đậu có thể truyền bệnh cho người khác từ khoảng 5 ngày trước khi bắt đầu xuất hiện bóng nước đầu tiên, và còn có thể tiếp tục gieo rắc mầm bệnh cho đến khi tất cả mụn nước đã đóng thành vảy. Trong đa số trường hợp, bệnh thủy đậu thường nhẹ và sẽ tự khỏi sau vài ngày, nhưng một số ít sẽ diễn tiến nặng và gây ra các biến chứng nguy hiểm.

Làm sao biết bé bị bệnh thủy đậu?
Những triệu chứng điển hình sau đây có thể gợi ý rằng bé của bạn mắc bệnh thủy đậu:
- Bé sốt nhẹ, đau họng, nhức đầu
- Nổi hồng ban có kích thước vài mm, sau đó nhanh chóng chuyển thành bóng nước, lúc đầu chứa dịch trong sau 24 giờ thì hóa đục.

- Bóng nước gây ngứa dữ dội
- Bóng nước xuất hiện ở thân mình, sau đó tiến đến vùng đầu mặt, tay chân
- Bóng nước xuất hiện ở niêm mạc miệng, cơ quan sinh dục
- Sau khoảng 5 ngày, những bóng nước này vỡ ra và đóng mài.
Điều đặc biệt là bạn có thể tìm thấy trên một vùng da những bóng nước ở nhiều giai đoạn khác nhau: cái chứa dịch trong, cái chứa dịch đục, cái đóng mài, cái bong vẩy nằm xen kẽ nhau mà các bác sĩ hay diễn tả bằng cụm từ “mụn nước nhiều tuổi”. Khi thấy trẻ có những dấu hiệu trên, phụ huynh cần đưa trẻ đi khám bệnh để được chẩn đoán và điều trị thích hợp.

Bệnh thủy đậu nguy hiểm như thế nào?
Bệnh thủy đậu thường diễn tiến nhẹ nhưng một số ít trường hợp bệnh có thể gây ra những hậu quả như:
- Để lại những sẹo rỗ trên da.
- Viêm mô tế bào do nhiễm thêm vi trùng
- Viêm phổi
- Viêm não

Chăm sóc trẻ bị bệnh thủy đậu tại nhà ra sao?
- Cho trẻ nghỉ ngơi, mặc quần áo thoáng mát.
- Dùng thuốc hạ sốt nhưng lưu ý tuyệt đối không dùng aspirine.
- Cho trẻ ngâm trong bồn nước ấm 1 – 3 lần mỗi ngày, lau nhẹ người bằng vải mềm, chú ý không làm vỡ bóng nước.
- Giữ gìn vệ sinh cá nhân để phòng ngừa nhiễm thêm vi trùng.
- Cắt ngắn móng tay cho trẻ, dạy trẻ không được gãi, trẻ nhỏ nên được đeo găng tay để không tự làm vỡ bóng nước.
- Cách ly trẻ bệnh khoảng 5 - 7 ngày để tránh lây lan.

Làm sao để phòng ngừa bệnh thủy đậu?
Bệnh thủy đậu hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng cách tiêm vắc xin cho trẻ. Đối tượng có thể tiêm ngừa bệnh thủy đậu là trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên và chưa từng mắc bệnh thủy đậu. Sau khi tiêm vắc xin, trẻ sẽ đạt được miễn dịch suốt đời.

Bác sĩ Như Huỳnh

Nguồn: BV Nhi Đồng 1
Thực hiện: Lam Tuong Nguyen
Hình ảnh: Internet.

5 thg 1, 2014

8 mẹo nhỏ chăm sóc da cho bé.


Trẻ em có thể trải qua một loạt các vấn đề về da, từ hăm tã và da khô cháy nắng, chất gây dị ứng da hoặc các vết côn trùng cắn. Thật may là các vấn đề này có thể được điều trị bằng biện pháp khắc phục da rất đơn giản sẵn có trong gia đình.

1. Bột yến mạch keo.
Là một dạng bột mịn giúp làm dịu làn da bị viêm, có thể được sử dụng cho một số điều kiện ngứa gây ra bởi cây thường xuân hoặc bệnh chàm.

2. Kem có chứa hydrocortisone.
Có thể được sử dụng cho các tình trạng viêm da. Tuy nhiên, cha mẹ cần kiểm tra với bác sĩ của con để chắc chắn rằng loại kem này có thể sử dụng an toàn, vì trong các trường hợp không mong muốn, nó có thể làm cho tình trạng da tồi tệ hơn.

3. Kem dưỡng ẩm có hương thơm không gây dị ứng.
Nếu làn da bé bị khô , việc sử dụng kem dưỡng ẩm có mùi hương dành cho làn da nhạy cảm sẽ là một trong những biện pháp khắc phục da tốt nhất .

4. Phun sương mát ẩm.
Độ ẩm là một trong những biện pháp khắc phục tốt nhất cho da, vì da ẩm ít có nguy cơ trở thành ngứa và nhạy cảm. Sử dụng máy tạo độ ẩm phun sương mát hàng ngày để ngăn ngừa nhiễm khuẩn hoặc nấm mốc.

5. Dầu bôi trơn.
Được sử dụng để giúp chữa lành da khô, da nứt nẻ, giúp để bẫy hơi ẩm trong da và cũng có thể giúp phát ban tã.

6. Kem chống nắng.
Tạo cho trẻ có thói quen thoa kem chống nắng, giúp ngăn ngừa ung thư da và lão hóa sớm của da.

7. Chườm túi đá
Đây là biện pháp khá hữu hiệu nhằm giảm ngứa và xoa dịu nhiều loại phát ban ở trẻ em. Tuy nhiên, phụ huynh nên thảo luận với bác sĩ nếu phát ban đang lan rộng hoặc có kèm theo sốt.

8. Dầu tắm có mùi hương
Các loại dầu tắm có thể chống lại tác động khô da khi sử dụng phòng tắm quá lâu.

Những biện pháp có thể thực hiện khá dễ dàng và không tốn kém, giữ cho làn da bé khỏe mạnh.

Biên dịch và thực hiện: Anh L.P Thai.
Nguồn: www.everydayhealth.com

2 thg 1, 2014

ĐỪNG BỐI RỐI KHI TRẺ NẤC CỤT


Nhìn trẻ nấc cụt rất khó chịu nhưng các bậc cha mẹ lại không biết phải xử trí thế nào. Và hiếm có ai đưa con đi bác sĩ vì nấc cụt cả.

"Hic!". Lỗi là do cơ hoành. Đây là một cơ hình vòm nằm ở đáy ngực, và là nguyên nhân gây ra nấc cục. Cơ hoành hầu như luôn hoạt động rất tốt. Khi hít vào, cơ hoành co, hạ xuống giúp không khí tràn vào phổi. Khi thở ra thì cơ hoành giãn và đẩy lên. Nhưng thỉnh thoảng, khi bị kích thích, cơ hoành hạ xuống một cách không liên tục, làm ta hít không khí vào cổ họng một cách đột ngột. Không khí ồ ạt tràn vào thanh quản làm xuất hiện nấc cụt.



Những nguyên nhân làm kích thích cơ hoành như ăn quá nhanh hay quá nhiều, một sự kích thích ở dạ dày hoặc cổ họng, cảm giác lo lắng hoặc phấn khích. Uống quá nhiều soda cũng góp phần gây nấc cụt.

Đây là một vài mẹo nhỏ có thể giúp trẻ hết nấc cụt:
- Với trẻ lớn, để đường cát nhuyễn vào miệng và bảo trẻ nuốt ngay, nếu không hết bạn có thể lập lại 3 lần cách nhau 2 phút. Trẻ nhỏ hơn có thể thay bằng siro, ngũ cốc hoặc nước chín.
- Ngoài ra, có thể bảo bé hít thở sâu, ngồi gập người trên đầu gối, ăn nước đá hoặc ăn một ít gừng tươi, dùng nước súc miệng.
- Và cách phổ biến nhất là bảo ai đó bất ngờ làm trẻ giật mình và sợ.

Hầu hết các trường hợp nấc cụt chỉ khoảng vài phút. Nhưng vài trường hợp có thể kéo dài nhiều ngày hoặc nhiều tuần, điều này rất bất thường và thường là dấu hiệu của một bệnh khác. Cần đưa trẻ đến bác sĩ nếu như nấc cụt liên tục trên 3 giờ (là khoảng thời gian để làm trống dạ dày) hoặc bé quá bứt rứt, khó chịu.

Nguồn: kidsheath.org và Better Heath Channel
Biện tập: Lam Tuong Nguyen

28 thg 12, 2013

Sốt vào mùa đông.



Sốt là phản xạ tự nhiên của cơ thể nhằm chống lại nhiễm trùng. Tuy nhiên, sốt nghiêm trọng hơn với một em bé dưới 6 tháng. Đặt biệt, với bé sơ sinh, cơn sốt có thể là dấu hiệu nguy hiểm cho sức khỏe. Do đó, với những bé ở độ tuổi này, nếu bị sốt, cha mẹ cần nhanh chóng đưa bé đi bác sĩ.

Lý do sốt ở bé
Các lý do sốt phổ biến bao gồm: cảm lạnh, cảm cúm, đau họng, nhiễm trùng tai, bệnh đường hô hấp (như viêm phổi, nhiễm trùng đường tiết niệu, mọc răng, tiêm chủng, do muỗi truyền bệnh…

Làm thế nào cha mẹ có thể phát hiện sốt ở bé?
Các bậc phụ huynh có thể phát hiện sốt ở bé bằng cách sờ vào trán của bé. Đo nhiệt độ là cách đơn giản và chuẩn xác nhất để phát hiện bé bị sốt, ví dụ, chúng ta có thể cặp nhiệt độ cho bé ở nách hoặc dùng nhiệt kế điện tử bấm trán với bé còn nhỏ. Những dấu hiệu khác kèm sốt ở bé là: cáu kỉnh, hôn mê, ăn uống kém, khóc, thở nhanh, có thể co giật do sốt cao.

Cha mẹ nên xử trí như thế nào khi bé sốt?
- Cho bé uống đủ nước từ sữa mẹ, sữa công thức tới nước sôi để nguội, nước cháo loãng…
- Cho bé nghỉ ngơi nếu bé muốn. Tất nhiên, bé không cần nằm yên một chỗ trên giường.
- Cho bé ăn theo nhu cầu. Bé cần năng lượng và đủ nước để mau hết sốt. Nếu bé đã ăn dặm, nên cung cấp các món yêu thích cho bé nhưng không nên ép buộc bé. Khi khỏe hơn, bé sẽ thèm ăn hơn.
- Nếu bé bị sốt nghi là do muỗi, nên đưa bé đi khám ngay để bác sĩ tư vấn loại thuốc dành cho bé.
- Lau bằng nước ấm mặt, cổ, cánh tay và chân của bé để giảm cơn sốt.
- Không nên mặc thêm quần áo cho bé nhưng cũng đừng cởi bỏ quần áo, khiến bé bị lạnh.

Làm gì khi cơn sốt của bé trở nên nghiêm trọng?
Cần thận trọng với những cơn sốt ở bé dưới 6 tháng. Nếu bé sốt cao trên 38 độ C cùng các triệu chứng khác, đó là dấu hiệu cảnh báo bệnh nghiêm trọng. Các triệu chứng gồm:
- Bé buồn ngủ, người lả đi.
- Bé không muốn uống suốt nhiều giờ đồng hồ.
- Thóp chìm, kèm khô môi, tiểu vàng đậm, tiểu ít. Có thể là dấu hiệu của mất nước.
- Nổi ban không rõ nguyên nhân.

Nếu bé bị co giật do sốt, cha mẹ không được chủ quan mà nên gặp ngay bác sĩ kiểm tra để xác định nguyên nhân phù hợp ở bé. Trong khi đưa bé đi khám, cha mẹ nên nới lỏng quần áo cho con và loại bỏ các vật có trong miệng bé như thức ăn hay ti giả để phòng bé cắn vào lưỡi.

Sưu tầm từ webtretho.com
Anh L.P Thai

25 thg 12, 2013

Vì sao bé dễ bị tiêu chảy vào mùa đông?


Gần đây, thời tiết ở Việt Nam trở lạnh ở cả hai miền từ Bắc vào Nam, do đó vấn đề bảo đảm sức khoẻ cho bé là mối quan tâm hàng đầu của các bậc phụ huynh.

Bệnh tiêu chảy là một trong những mối đe dọa chính đối với sức khỏe của trẻ nhỏ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Tiêu chảy rotavirus xảy ra thường xuyên nhất trong mùa đông, rotavirus ảnh hưởng đến sức khoẻ của bé, khiến cơ thể bị sốt nhẹ và nôn định kỳ , tiếp theo là tiêu chảy. Nôn mửa thường dừng lại sau khi vài ngày đầu tiên và tiêu chảy diễn biến từ 5-7 ngày.


Điều trị thông thường theo lời khuyên của những người đã nuôi con là giữ em bé trong ánh mặt trời ấm áp và mát-xa bởi dầu mù tạt thường xuyên. Điều này có thể có hiệu quả khi bệnh không yêu cầu bất kỳ điều trị đặc hiệu nào ngoài uống nhiều nước. Tuy nhiên, trẻ em có thể bị đại tiện hoặc nôn nhiều thường xuyên dẫn đến tình trạng mất nước. Nhiều trẻ em có thể sẽ phải nhập viện để truyền nước . Ngoài ra, mất nước nghiêm trọng đôi khi có thể dẫn đến sốc, nếu không được điều trị kịp thời và thích hợp dẫn đến tử vong .

Vì vậy, những gì cha mẹ nên làm gì khi con mình bị tiêu chảy mùa đông ?
Cung cấp cho bé nhiều nước ; thay thế các chất lỏng bị mất bằng cách bù nước lại nước và cho con bú thường xuyên (đối với trẻ sơ sinh). Nếu trẻ nôn, cố gắng cho bé uống một lượng nhỏ chất lỏng trong khoảng thời gian thường xuyên .

Thuốc giảm sốt có thể được sử dụng nếu cần thiết, nhưng không nên sử dụng kháng sinh vì nó sẽ khiến cho quá trình của bệnh kéo dài hơn. Nếu nôn mửa vẫn tiếp diên, trẻ ù lì không cận động , đi ngoài rất ít hoặc không có nước tiểu trong vài giờ, cần phải được đưa bé đến ngay ệnh viện. Nhưng nếu trẻ bị sốt cao , đau bụng hoặc phân có máu, bệnh cần được điều trị bằng một cách khác.

Một vắc-xin rotavirus đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước phát triển và cho thấy, vắc xin đã giảm đáng kể bệnh tiêu chảy , nhập viện và tử vong liên quan đến bệnh tiêu chảy mà không có bất kỳ tác dụng phụ đáng kể.

Tuy nhiêm đối với trường hợp ở nước ta, cách thay thế tốt nhất là thực hiện theo các phương pháp giữ gìn vệ sinh và tránh mất nước.


Biên dịch và tổng hợp: Anh L.P Thai
Nguồn: Học viện khoa học về sức khoẻ Patan.

19 thg 12, 2013

Hiểu thêm về Răng sữa.


Thay răng sữa
- Răng sữa có 20 cái, kích thước nhỏ hơn nhiều so với 32 răng vĩnh viễn. Mỗi hàm của bộ răng sữa gồm 4 răng cửa, 2 răng nanh và 4 răng cối.
- Từ trong bụng mẹ, răng sữa đã bắt đầu hình thành, chiếc răng đầu tiên mọc khi trẻ được chừng 5 đến 8 tháng, có thể sớm hoặc trễ hơn, bé trai thường trễ hơn bé gái. Chiếc răng sữa cuối cùng mọc thường là khi trẻ chừng 2 đến 3 tuổi.
- Còn răng sữa bắt đầu rụng khoảng từ 6 đến 12 tuổi, mỗi hàm, răng cửa và răng nanh sữa thay bằng răng vĩnh viễn tương ứng; 4 răng cối thay bằng 4 răng tiền cối vĩnh viễn; mọc thêm 4 răng cối đầu tiên, 4 răng này không có răng sữa tương ứng.
- Thường ở tuổi 13, trẻ không còn răng sữa nữa, và đã có 28 của tổng số 32 răng vĩnh viễn của người lớn. Những răng vĩnh viến cuối cùng là 4 răng khôn ( răng cối thứ 3 hay răng cùng), chúng có thể mọc tuỳ lúc cả đến khi hơn 20 tuổi.

Tầm quan trọng của răng sữa
Thường có quan niệm cho rằng rụng răng sữa là một vấn đề răng miệng, đó là sai lầm. Răng sữa có một số vai trò quan trọng sau:
- Thiết yếu cho những bước đầu của việc tiêu hoá thức ăn: cắn, nhai, nghiền
- Học cách hoạt động đúng khi chuyển sang răng vĩnh viễn; răng sữa giữ những khoảng cách thích hợp trong miệng giúp răng vĩnh viễn mọc thẳng hàng. Nếu răng sữa bị sâu và rụng sớm, làm cho răng vĩnh viễn có nguy cơ mọc bị cong và kẹt với các răng khác.
- Răng sữa ảnh hưởng đến sự phát triển của mặt và các cơ hàm.
- Sâu răng và các bệnh khi còn răng sữa có thể khỏi dễ dàng khi thay răng vĩnh viễn. Lưu ý những răng cối sữa vẫn còn cho đến 10-12 tuổi, với nhiều cơ hội lan sâu răng qua các răng cối vĩnh viên mới mọc bên cạnh.
- Nhiễm trùng trong răng sữa bị sâu có thể làm tổn thương sự phát triển của răng vĩnh viễn nằm ngay bên dưới.

Tại sao cần phải chú ý khi bắt đầu mọc răng vĩnh viễn
Bắt đầu vào khoảng 6 tuổi, trong miệng có cả răng sữa và răng vĩnh viễn:
- Răng vĩnh viễn mới mọc vẫn chưa hoàn toàn trưởng thành. Vài năm đầu trong khoang miệng là khoảng thời gian then chốt vì chúng còn yếu và dễ tổn thương bởi sâu răng.
- Răng cối trong thời gian này đặc biệt dễ bị sâu, vì chúng là những răng vĩnh viễn mọc đầu tiên nên dễ bị chúng ta lãng quên.
- Sự lẫn không đều răng sữa và răng vĩnh viễn làm cho càng khó vệ sinh bảo vệ hơn.

Biên dịch và tổng hợp từ nguồn :brushdayandnight.com

14 thg 12, 2013

Bệnh viêm tai giữa ở trẻ em.


Thông thường, tỷ lệ mắc bệnh viêm tai giữa ở trẻ là cao nhất và nếu không được điều trị đúng và kịp thời thì có thể dẫn đến biến chứng thủng màng nhĩ. Bài viết dưới đây sẽ giúp các bậc phụ huynh phòng tránh và chăm sóc các bé khi bị viêm tai giữa.

Viêm tai giữa là gì?
Viêm tai giữa cấp là tình trạng viêm cấp niêm mạc hòm nhĩ, vòi nhĩ và niêm mạc lót trong tế bào hơi của xương chũm.

Viêm tai giữa cấp thường gặp ở trẻ em từ 1-2 tuổi, trẻ bị suy dinh dưỡng, trẻ bị suy giảm miễn dịch sau một số bệnh như sởi… thường dễ bị mắc bệnh viêm tai giữa cấp. Trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi tỷ lệ mắc bệnh là 80%. 30% có thể tự khỏi. Khoảng 40% bị viêm tai giữa tái phát nhiều lần. Tuổi càng lớn viêm tai giữa cấp càng giảm vì tuổi càng lớn tỉ lệ nhiễm khuẩn đường hô hấp trên cấp tính càng giảm.

Nguyên nhân gây viêm tai giữa là gì?
Viêm tai giữa do viêm nhiễm tại chỗ chủ yếu do viêm VA, amidal, mũi họng cấp, xoang; tắc vòi nhĩ; do u sùi họng, thay đổi áp lực đột ngột khi đi máy bay, lặn sâu… tình trạng dị ứng gây phù nề tắc vòi; dị tật hở hàm ếch: các nghiên cứu của nhiều tác giả cho rằng có >50% bệnh nhân hở hàm ếch bị viêm tai giữa cấp; do vi khuẩn thường gặp: tụ cầu (Streptococus pneumoniae) 30%, virut cúm (Hemophilus influenzae) 23%…, Moraxella catarralis 14%.

 Dựa vào dấu hiệu nào để nhận biết thủng màng nhĩ do viêm tai giữa
Viêm tai giữa cấp giai đoạn vỡ mủ là dấu hiệu màng nhĩ đã thủng. Triệu chứng toàn thân và cơ năng giảm hẳn, đỡ sốt, trẻ đỡ quấy khóc, hết tiêu chảy. Thăm khám thấy ống tai ngoài có mủ, màng nhĩ có lỗ thủng ở giữa hoặc trước dưới, mủ lúc đầu loãng, nhầy, sau đặc dần thành mủ nhầy keo hoặc mủ trắng đặc. Nếu được điều trị kháng sinh, chống viêm, làm thuốc tai tốt, bệnh sẽ khỏi, màng tai có thể liền. Nếu giai đoạn này không được điều trị hay điều trị không kịp thời bệnh sẽ chuyển sang viêm tai giữa mạn tính, hoặc viêm xương chũm cấp và có thể gây các biến chứng như: Liệt mặt ngoại biên, viêm mê nhĩ, ù tai chóng mặt, viêm màng não…bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ.

Chữa viêm tai giữa theo trong giai đoạn vỡ mủ.
Dùng kháng sinh, chống viêm uống hoặc tiêm, làm thuốc mũi xoang, làm thuốc tai hằng ngày đến khi tai khô, theo dõi trẻ đến khi màng tai liền hoàn toàn. Việc làm thuốc tai có ý nghĩa quan trọng, các thuốc nhỏ tai cần phải được dùng theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa, không tự ý dùng vì một số thuốc dùng không đúng cách có thể gây điếc vĩnh viễn không phục hồi. Tuyệt đối tránh để nước vào tai.
Cần lưu ý những trẻ hay bị chảy mũi xanh, đặc, phải há mồm thở khi ngủ, hay sốt vặt và thường bị viêm tai giữa cấp tái đi tái lại thì cần được nạo VA, cắt amidal, hút mũi xoang khi cần, chứ không chỉ điều trị nội khoa đơn thuần.

Làm thế nào để phòng tránh bệnh viêm tai giữa?
Để phòng tránh viêm tai giữa nói chung thì cần phòng chống các nguy cơ gây viêm nhiễm đường thở trên cấp tính như viêm mũi họng, viêm VA, viêm amydal, viêm xoang.
Đối với các gia đình có em bé nhỏ, bố mẹ cần tạo một môi trường sống trong lành cho trẻ, khói thuốc lá cũng là một yếu tố nguy cơ cao gây bệnh viêm nhiễm đường thở trên cấp tính và từ đó gây viêm tai giữa. Khi bị viêm nhiễm đường thở trên cấp tính cần được điều trị tại các cơ sở y tế. Khi có các biểu hiện về tai thì cần được thăm khám và theo dõi tại chuyên khoa tai mũi họng.
Việc nhỏ thuốc vào tai và làm thuốc tai phải theo đúng chỉ định của bác sĩ tai mũi họng, không nên tự điều trị.

Biên tập tổng hợp : Anh L.P Thai

meyeucon.org và kidhealth.com.


13 thg 12, 2013

XỬ TRÍ ĐÚNG KHI TRẺ BỊ NGHẸT MŨI



BS CK2 Nguyễn Thị Kim Thoa cho biết: Thuốc nhỏ mũi co mạch được dùng phổ biến ở nước ta là Naphazoline, có tên là Rhinex 0,05%, Nasoline 0,05% không được dùng cho trẻ nhỏ hơn 7 tuổi. Tuy nhiên thực tế nghiên cứu tại bệnh viện Nhi Đồng 1 cho thấy ngộ độc thuốc nhỏ mũi co mạch thường xảy ra ở nhóm tuổi từ 1 tháng đến 3 tuổi, do người nhà tự ý dùng loại thuốc này cho trẻ em. Chỉ cần nhỏ 2 giọt là đã đủ gây nguy hiểm cho trẻ nhỏ. Đáng lưu ý là thân nhân của những trẻ này biết rõ thuốc sử dụng phổ biến cho người lớn nhưng lại không biết tác dụng phụ cũng như giới hạn tuổi sử dụng của loại thuốc này ở trẻ em.


Ngộ độc thuốc nhỏ mũi co mạch gây ra những tác hại như thế nào?
BS Nguyễn Thị Kim Thoa: Sau khi nhỏ mũi từ 30 phút đến 2 giờ, sẽ xuất hiện các biểu hiện vã mồ hôi, tay chân lạnh ngắt. Nhanh chóng sau đó, trẻ lừ đừ, hôn mê, thở yếu. Thậm chí có những dấu hiệu nặng như ngưng thở từng cơn, nhịp tim không đều có thể dẫn đến tai biến nghiêm trọng nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Những biện pháp nào có thể phòng tránh ngộ độc thuốc nhỏ mũi co mạch ở trẻ em?
BS Nguyễn Thị Kim Thoa: Thực tế cho thấy mặc dù triệu chứng nghẹt mũi rất hay gặp ở trẻ em nhưng đa số các bà mẹ không biết cách chăm sóc khi trẻ bị bệnh nên đã tự ý điều trị nghẹt mũi theo kinh nghiệm hay mua thuốc không toa. Do vậy để phòng tránh ngộ độc thuốc nhỏ mũi ở trẻ em, cần tuyên truyền rộng rãi, nhắc nhở lại khuyến cáo không dùng thuốc nhỏ mũi co mạch cho trẻ em dưới 7 tuổi. Ngoài ra, những thân nhân của trẻ; các cô giáo ở nhà trẻ, trường mầm non, mẫu giáo cũng cần biết cách chăm sóc trẻ khi bị nghẹt mũi để tránh tai biến cũng như diễn tiến bệnh kéo dài gây biến chứng.

Xử trí đúng khi trẻ bị nghẹt mũi
BS Nguyễn Thị Kim Thoa: Áp dụng biện pháp làm thông mũi như sau:
- Đối với trẻ nhỏ, làm sạch mũi bằng bấc sâu kèn.
- Dùng khăn giấy mềm, dai, để làm bấc sâu kèn. Đặt vào hốc mũi để thấm ướt dịch mũi, sau đó lấy ra và đặt lại một bấc sạch. Lập lại các bước này cho đến khi sạch mũi.
- Nếu trẻ bị nghẹt nhiều, nên sử dụng dung dịch nhỏ mũi là nước muối sinh lý 0,9% làm loãng dịch mũi để dễ dàng làm sạch mũi: nhỏ 1 – 2 giọt nước muối sinh lý vào từng lỗ mũi, chờ vài phút, sau đó làm sạch mũi.
- Đối với trẻ lớn, hướng dẫn trẻ hỉ sạch mũi từng bên đúng cách. Dùng một ngón tay bịt một lỗ mũi, hỉ mũi bên kia và tiếp theo làm ở bên mũi còn lại.

Hướng dẫn trẻ tránh thói quen hỉ mũi thật mạnh cả 2 bên, động tác này làm tăng đột ngột áp lực trong tai, dễ gây rách màng nhĩ.
Làm thông mũi 2 đến 3 lần mỗi ngày và trước khi cho trẻ bú, ăn. Ngoài ra, chăm sóc trẻ nghẹt mũi cũng cần tăng cường nước uống và dinh dưỡng đầy đủ. Chỉ sử dụng kháng sinh khi có ý kiến của bác sĩ.

Những điều không nên làm:
- Dùng miệng để hút mũi trẻ, sẽ lây lan thêm mầm bệnh cho trẻ
- Tự ý dùng kháng sinh để trị nghẹt mũi

Nguồn: Hải Thoa, BV Nhi Đồng 1
Biên tập: Lam Tuong Nguyen

4 thg 12, 2013

LỐI SỐNG KHOẺ MẠNH Ở TUỔI THIẾU NIÊN


Những thói quen hiện tại sẽ làm nên những khác biệt sau này?Đúng vậy. 65% trường hợp tử vong ở người trưởng thành là do bệnh tim, ung thư và đột quỵ. Nhiều trường hợp bệnh này có thểphòng tránh. Nhiều thói quen gây ra bệnh bắt đầu từ khi còn trẻ. Ví dụ, nếu hút thuốc là ở tuổi thiếu niên, khả năng mắc bệnh tim, ung thư hay đột quỵ sẽ cao hơn khi trưởng thành.

Ở tuổi thiếu niên, nên làm gì để có lối sống khoẻ mạnh?- Không dùng bất kì loại thuốc lá nào. Cố gắng để không bị hút thuốc lá thụ động
- Vận động thường xuyên
- Có chế độ ăn khoẻ mạnh
- Luôn thắt dây an toàn, đội nón bảo hiểm khi đi xe, dùng dụng cụ bảo hộ khi chơi thể thao
- Không lái xe khi đã uống rượu. Không ngồi lên xe mà người lái có sử sụng cồn và chất kích thích.
- Đừng bao giờ đi bơi một mình
- Hãy nói chuyện với ba mẹ hoặc bác sĩ khi cảm thấy suy sụp hay có ý định làm hại chính mình
- Tránh các trường hợp bạo lực, đánh nhau gây thương tích
- Nếu có quan hệ tình dục, dùng bao cao su để tránh thụ thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (Tuy nhiên, nên nhớ rằng an toàn nhất là không quan hệ tình dục)
- Đến bác sĩ thường xuyên

Bác sĩ có thể làm gì?- Xác định nguy cơ gây ra những vấn đề về sức khoẻ của mỗi người
- Đo chiều cao, cân nặng, lượng cholesterol và huyết áp
- Kiểm tra tổng quát sức khoẻ và phát hiện bệnh
- Tiêm vắc-xin để giảm nguy cơ mắc các bệnh như quai bị, uốn ván, viêm gan,...

Nên đặc biệt chú ý điều gì ở độ tuổi thiếu niên?Những nguy cơ hàng đầu ảnh hưởng tính mạng: tai nạn xe cộ, thương tích ngoài ý muốn, những tội phạm giết người và tự tử. Ung thư và bệnh tim cũng gây ảnh hưởng. Mang thai không có kế hoạch và các bệnh lây truyền qua đường tình dục gây ra nhiều vấn đề và tổn hại sức khoẻ.

Nam và nữ có những mối nguy cơ khác nhau?Đúng. Nam thường không đội mũ bảo hiểm hơn nữ. Có thể mang vũ khí, đánh nhau, dùng chất gây nghiện hay cần sa, uống rượu bia và quan hệ với nhiều người hơn nữ. Mặt khác, nữ lại có những nguy cơ khác. Số trường hợp tự tử nhiều hơn và nữ thường cố giảm cân không đúng cách.

Có nên đến bác sĩ khi cảm thấy lo lắng về sức khoẻ?Có. Điều đó rất quan trọng. Bác sĩ luôn sẵn sàng giúp bạn.

Nguồn: familydoctor.org
Biên tập thực hiện: Lam Tuong Nguyen

3 thg 12, 2013

CHẤN THƯƠNG ĐẦU GỐI Ở TRẺ EM.


Trong cuộc sống hàng ngày, trẻ em thường thích vận động, chạy nhảy cùng bạn bè để tham gia các trò chơi thể thao yêu thích. Tuy nhiên, các vấn đề chấn thương đầu gối luôn mang lại sự lo lắng cho các bậc cha mẹ. Bài viết dưới đây sẽ giúp các bậc phụ huynh hiểu rõ và an tâm trong việc phòng tránh và xử lý khi bé bị chấn thương đầu gối.

Chẩn đoán chấn thương bằng cách nào?
- Bác sĩ sẽ cho bé nằm trên mặt phẳng để ổn định đầu gối và kiểm tra các phần lien quan đến chấn thương.
Ngoài ra, các biện pháp chẩn đoán hình ảnh như MRI, X-quang, hoặc CT scan cũng có thể được thực hiện để xác định mức độ nghiêm trọng của chấn thương đầu gối

Điều trị chấn thương đầu gối.
- Bất kỳ đứa trẻ bị chấn thương đầu gối nên nghỉ ngơi và giảm thiểu các hoạt động vận động liên quan đến đầu gối càng nhiều càng tốt.
- Sau khi chấn thương, ngay lập tức chườm đá vào khu vực này khoảng thời gian 20 phút để làm giảm sưng và sử dụng băng nén để giúp ổn định đầu gối. Các bậc cha mẹ chú ý không để cho bé chịu nhiều trọng lượng trên đầu gối đồng thời nâng cao chân trên gối hoặc vật mềm khác để giảm đau và sưng.
- Bác sĩ có thể kê toa thuốc kháng viêm nếu con của bạn có viêm nặng và đau .
- Sau khi điều trị ban đầu, một số trẻ em có thể mang khóa động đầu gối để tránh sự di chuyển chân quá nhiều trong một vài tuần và có thể cần phải sử dụng nạng để đi lại.
- Chấn thương đầu gối nghiêm trọng hơn có thể cần phải phẫu thuật để tái tạo lại đầu gối nếu đứa trẻ đã bị rách dây chằng hay gân hoặc gãy xương.
- Trong nội soi khớp, bác sĩ phẫu thuật tạo một lỗ nhỏ ở đầu gối và chèn một soi khớp vào khớp . Các soi khớp có một máy quay video được nối với một màn hình TV để cung cấp cho các bác sĩ phẫu thuật các hình ảnh phóng đại trong ca phẫu thuật. Nếu chấn thương quá phức tạp, các bác sĩ phẫu thuật sẽ phải chuyển sang phẫu thuật "mở", đòi hỏi một vết rạch lớn hơn để xem khu vực này bằng mắt thường.
- Bất kể trẻ có nội soi khớp hoặc phẫu thuật mở thông thường, thời gian phục hồi chấn thương đầu gối sẽ kéo dài từ vài tuần đến một vài tháng.
- Hầu hết trẻ em bình phục từ chấn thương đầu gối sẽ cần đến liệu pháp phục hồi chức năng để giúp chữa lành đầu gối, khôi phục lại tầm vận động, lấy lại sức mạnh ở đầu gối, đùi và cẳng chân cơ bắp để ngăn chặn teo cơ, giảm đau và sung, cải thiện sự cân bằng và khôi phục hiệu suất chức năng cho các hoạt động vận động.

Ngăn ngừa chấn thương đầu gối
- Ngăn ngừa chấn thương đầu gối sẽ góp phần tránh sự đau đớn và phức tạp của việc phẫu thuật.
- Nếu các bé chơi thể thao, cha mẹ hãy nhắc nhở bé trang bị các thiết bị bảo vệ thích hợp trong quá trình vận động và thi đấu thể thao. Việc bảo vệ ống chân (cũng như mũ bảo hiểm và giày hỗ trợ…) sẽ giúp ngăn ngừa chấn thương .
- Trong tập luyện, luôn luôn đảm bảo trẻ em làm ấm người, khởi động trước khi cuộc chơi bắt đầu, đồng thời làm mát cơ thể sau khi kết thúc.
- Khuyến khích trẻ tập yoga để cải thiện tính linh hoạt cho các cơ.
- Khi nhảy, cha mẹ hãy nhắc nhở con uốn cong đầu gối trong khi tiếp đất nhằm giảm áp lực cho đầu gối và ngăn ngừa chấn thương.
- Đối với trẻ em, chơi thể thao điều độ và thường xuyên dù ở mức độ thấp có thể giúp bé giảm nguy cơ chấn thương.

Biên dịch và tổng hợp: Anh LP Thai

28 thg 11, 2013

CHỨNG SUY GIẢM THỊ LỰC (MẮT LƯỜI) Ở TRẺ EM


Nguyên nhân thực sự gây chứng suy giảm thị lực
- Suy giảm thị lực (mắt lười) là tình trạng não không nhận được thông tin từ một bên mắt, làm hình ảnh trở nên mờ và nhoè. Phầnlớn trường hợp là không có khiếm khuyết cấu tạo nào của mắt trong "chứng mắt lười", mặc dù bệnh có thể không đáng kể hoặc nặng thêm - đưa đến tình trạng lát mắt (lé mắt).
- Vào thế kỉ 19, có bước tiến quan trọng về giải phẫu mắt, nhưng mãi đến những năm 1930, các nhà khoa học mới khám phá ra việc nhìn cần phải được học tập. Đây là một bất ngờ lớn vì trước đây người ta nghĩ rằng nhìn là tự động, như thở hay tiêu hoá vậy.
- Những nghiên cứu về sự phát triển của trẻ em đã chứng minh điều này. Con người được sinh ra với phản xạ nhìn cơ bản, nhưng ta cần phải học cách sử dụng đôi mắt. Khi một em bé mở mắt lần đầu tiên, hai mắt không tự động cùng làm việc với nhau như một đôi mắt, và thực tế là nhiều em bé sinh ra với đôi mắt bị lát (mắt lé).
- Trong vài tháng đầu đời, chúng ta phải học cách vận động hệ thị giác. Não hình thành những liên kết nơron làm cho hai mắt cùng làm việc như một đôi mắt và tập trung vào cùng một vật ở cùng một thời điểm. Quá trình này phụ thuộc vào việc cả hai mắt nhận được cường độ kích thích như nhau. Nếu một bên mắt không nhận đủ kích thích, liên kết nơron bị đứt và não thường sẽ không nhận được thông tin từ mắt bên đó, làm con mắt trở nên "lười".

Một kiểm tra đơn giản cho mắt bị suy giảm thị lực
- Đặt em bé trong nôi mà một bên mắt nhìn thấy một thế giới ánh sáng, màu sắc và những hình chuyển động; ngược lại, mắt kia chỉ nhìn thấy bức tường có thể gây chứng suy giảm thị lực. Kết quả là một bên mắt ưu thế được não sử dụng để nhìn nhiều và một bên mắt bị não lãng quên.
- Nếu có một mắt bị suy giảm thị lực, hệ thị giác sẽ mất cân bằng như một động cơ ôtô bốn bánh mà chỉ có hai bánh chạy tốt. Chiếc ôtô như vậy sẽ chạy không nhanh và tốn nhiều năng lượng. Cũng như vậy, người có một mắt bị suy giảm thị lực thường phải chịu việc cảm nhận không sâu và phối hợp mắt kém, đọc, hiểu khó khăn.
- Nhiều người vẫn có một bên mắt ưu thế hơn mặc dù thị giác bình thường, cũng chỉ giống như thuận tay trái hay thuận tay phải. Miễn là bên mắt thuận khônng quá ưu thế thì không vấn đề gì.
- Rất dễ kiểm tra chứng suy giảm thị lực. Nhìn vào một vật sáng, sau đó dùng tay che một mắt lại, sau đó di chuyển bàn tay để che mắt kia. Lùi lại và tiến tới với mỗi bên mắt vài lần. Nếu ảnh hai mắt nhìn thấy gần như sáng và rõ như nhau, tức hệ thị giác cân bằng. Nhưng nếu ảnh của một bên nhoè và mờ hơn đáng kể, tức là đã mắc chứng suy giảm thị lực.

Điều trị chứng suy giảm thị lực
- Suy giảm thị lực và lác mắt thường có thể được cải thiện hoặc chữa trị bằng cách che bên mắt thuận trong thời gian dài để buộc bên mắt "lười" phát triển. Nghiên cứu cho thấy thời gian che bên mắt thuận càng dài thì kết quả càng tốt. Nhiều bác sĩ mắt khuyên bịt hoàn toàn bên mắt thuận bằng băng y tế tối màu trong vài ngày. Nếu đeo kính, có thể che một bên tròng kính lại.
- Tất nhiên, không phải chỉ cần làm bên mắt lười khá hơn là hệ thị giác tự động cân bằng trở lại. Nếu che một bên mắt không có tác dụng, có những công nghệ khác, như luyện tập, tiêm thuốc vào cơ mắt. Cuối cùng là phẫu thuật và các bài tập sau đó.

Trích dẫn và biên dịch: Dr. Merrill J. Allen, Dr. Steven M. Beresford, 
Dr. Francis A. Young (American Vision Institute) 

Tác giả: Lam Tuong Nguyen

22 thg 11, 2013

THÓI NGHIẾN RĂNG LÚC BÉ NGỦ

Khi nhìn con trẻ đang ngủ, cha mẹ luôn mong muốn nghe những tiếng thở sâu, nhẹ nhàng và đều đặn của bé. Tuy nhiên có đôi lúc cha mẹ phát hiện ra những âm thanh nghiến, nghiền răng thô ráp, một vấn đề thường gặp ở trẻ em.
Nghiến răng lúc ngủ là sự nghiền răng, nghiến hàm thường xảy ra trong giấc ngủ sâu hoặc trong cơn stress. Cứ 10 trẻ thì có 2 hoặc 3 trẻ gặp phải, nhưng theo các chuyên gia, đa số lớn lên sẽ khỏi.


Nguyên nhân của thói nghiến răng khi ngủ
- Chúng ta không biết được nguyên nhân gây nghiến răng dù đã có nhiều cuộc nghiên cứu. Tuy nhiên, trong vài trường hợp, trẻ nghiến răng có thể do răng hàm trên và hàm dưới không thẳng hàng. Hoặc do đau, như đau tai, đau răng; để làm đỡ đau khi cọ xát những cơ bị đau. Khá nhiều trẻ phát triển thoát khỏi những nguyên nhân thông thường này.
Stress – thường bị căng thần kinh hay tức giận – lại là một nguyên nhân khác. Ví dụ, trẻ lo lắng về bài kiểm tra hay sự thay đổi trong thói quen (anh chị em mới hay giáo viên mới), thậm chí cãi nhau với cha mẹ, anh chị em.
Một vài đứa trẻ quá hiếu động , hoặc đôi khi trẻ đang gặp vấn đề bệnh khác cũng có thể gây thói nghiến răng.

Những ảnh hưởng của thói nghiến răng
- Gây đau đầu hoặc đau tai, nhưng nhiều trường hợp không phát hiện những ảnh hưởng xấu. Thường thì gây phiền nhiều hơn cho các thành viên khác trong gia đình do âm thanh nghiến răng.

Trong vài trường hợp, có thể làm mòn men răng, làm mẻ răng, tăng độ nhạy cảm của răng với nhiệt độ, gây đau mặt nghiêm trọng và những vấn đề về hàm, như bệnh khớp thái dương hàm (TMJ). Trừ khi là nghiến và nghiền răng kinh niên, nếu không đa số sẽ không gặp phải bệnh khớp thái dương hám.

Chẩn đoán
- Nhiều trẻ không nhận ra chính mình mắc thói nghiến răng, thường chính bố mẹ , anh chị em là người phát hiện.
- Vài dấu hiệu cần để ý:
Những tiếng nghiến khi trẻ đang ngủ
Buổi sáng kêu đau hàm hay đau mặt
Đau khi nhai
Nếu trẻ mắc thói nghiến răng, hãy đến nha sĩ kiểm tra sự hao mòn và mẻ men răng, phun khí và nước để kiểm tra độ nhạy cảm bất thường.
Nếu phát hiện tổn thương, nha sĩ sẽ hỏi trẻ vài câu hỏi như:
Con cảm thấy thế nào trước khi đi ngủ?
Có lo lắng về điều gì ở trường hay ở nhà không?
Có tức giận với ai không?
Làm gì trước khi đi ngủ?
Hỏi giúp nha sĩ xác định thói nghiến răng là do nhân tố giải phẫu (răng không thẳng hàng) hay tâm lí (stress) và đề ra kế hoạch điều trị hiệu quả.

Điều trị
- Đa số trẻ lớn lên sẽ tự khỏi, nhưng sự theo dõi của bố mẹ cùng với nha sĩ có thể giúp kiểm soát cho đến khi phát sinh vấn đề.
Trong trường hợp nghiến và nghiền răng làm mặt, hàm bị đau và gây tổn thương răng, nha sĩ có thể chỉ định dùng một dụng cụ tương tự như miệng cái kèn có tác dụng bảo vệ đặc biệt, được thiết kế cho răng trẻ em. Dù sẽ thành thói quen, nhưng điều này có hiệu quả rất nhanh.
Làm gì để giúp trẻ?
+ Thư giãn trước khi đi ngủ: tắm nước nóng, nghe nhạc dịu nhẹ vài phút hoặc đọc sách.
+ Nếu nguyên nhân là do stress, hỏi xem điều gì làm trẻ buồn và tìm cách giúp đỡ. Nhưng nếu bạn vẫn lo lắng, hãy đến gặp bác sĩ.
+ Trong trường hợp hiếm, những cách làm giảm stress thông thường không thể chấm dứt nghiến răng. Nếu trẻ gặp vấn đề về giấc ngủ hoặc có hoạt động bất thường, đến bác sĩ hoặc nha sĩ để được chẩn đoán chính xác, giúp xác định nguyên nhân của stress và có hướng điều trị thích hợp.

Thói nghiến răng lúc ngủ kéo dài bao lâu?
Mắc thói nghiến răng thuở thơ ấu thường khỏi ở tuổi thiếu niên. Đa số là khi thay răng vĩnh viễn. Tuy nhiên, nếu thói nghiến răng vẫn tiếp diễn và do stress, nó sẽ tiếp tục cho đến khi nào stress được giải tỏa.

Phòng ngừa thói nghiến răng
 - Đôi khi nghiến răng là phản ứng tự nhiên của sự tăng trưởng và phát triển nên đa số không thể phòng ngừa. Nghiến răng do stress có thể tránh được, trò chuyện thường xuyên và giúp trẻ giải quyết stress. Thường xuyên đến nha sĩ để phát hiện, và nếu cần, điều trị thói nghiến răng.


(Nguồn: familydoctor.org- Bs Phẫu thuật Nha khoa Kenneth H. Hirsch)

Biên dịch tổng hợp : Lam Tuong Nguyen

19 thg 11, 2013

BỮA ĂN TRƯA Ở TRƯỜNG HỌC CHO BÉ

Đang ngồi trong lớp và dạ dày bắt đầu sôi ùng ục. Cuối cùng, chuông cũng reo, đến giờ ăn trưa rồi, woo-hoo! Sau chừng ấy thời gian trong lớp học, các bé xứng đáng được thẳng tiến đến nhà ăn, ngồi xuống, thư giãn và vui vẻ cùng với bạn bè trong lúc ăn trưa.
Nhưng đợi đã – Chính xác là bé sẽ ăn gì?
- Khi ở trường, các bé thường có quyền tự chọn sẽ ăn gì hơn, những bữa ăn khác ở nhà thì không như vậy. Trẻ có thể chọn ăn đậu xanh hoặc vứt chúng đi, cũng có thể chọn không ăn sandwich kem mà ăn một trái táo chẳng hạn.
Khi chọn sẽ ăn gì cho bữa trưa, một sự lựa chọn vì sức khỏe là thực sự quan trọng.

Tại sao? Ăn đa dạng thức ăn tốt cho sức khỏe cung cấp năng lượng hoạt động, giúp cơ thể phát triển đúng hướng và cả tránh khỏi những bệnh tật.
Vậy thì, thế nào là một bữa trưa khỏe mạnh? Câu hỏi này có nhiều đáp án đúng.



Cantin hay mang cơm theo?
- Hầu hết trẻ chọn mang theo cơm trưa hoặc mua ở trường, cách nào cũng có thể cho trẻ một bữa trưa đạt chất lượng. Rất may là, các món ở cantin trường đôi khi cũng chất lượng hơn những nơi khác.
Điều đó không có nghĩa là các bố mẹ nên để con mua cơm trưa ở cantin. Chỉ là bố mẹ nên để tâm đến thực đơn của cantin trường. Biết trước trưa mai trường sẽ có những món gì giúp bố mẹ biết được bé có cần ăn những món đó hay không!

- Làm cơm hộp mang theo không hẳn là tốt hơn bữa cơm ở cantin. Nếu bé mang theo bánh chocolate và khoai tây chiên, đó chẳng phải là một bữa ăn dinh dưỡng! Nhưng nếu làm cơm hộp đúng cách, sẽ rất có lợi. Khi làm cơm, bố mẹ có thể đảm bảo các món ăn ưa thích và tốt cho sức khỏe. Đó không phải là công thức tối ưu áp dụng cho tất cả mọi người, chỉ đơn giản là một bữa trưa cho trẻ. Nếu món khoái khẩu của trẻ là sandwich bơ đậu và chuối, hãy làm cho chúng. Bố mẹ cần giúp trẻ. Bé có thể nói với bố mẹ rằng bữa trưa thích ăn gì để bố mẹ làm giúp.

10 bước để có một bữa trưa lí tưởng
Dù mang theo cơm hộp hay mua cơm trưa, hãy làm theo các bước sau:
1. Chọn trái cây và rau củ. Trái cây và rau củ chính là mục tiêu bổ sung dinh dưỡng, chúng chứa nhiều vitamin , chất xơ và làm bữa ăn trong bắt mắt hơn. Một khẩu phần lí tưởng cần 5 loại rau củ quả mỗi ngày, nên hãy cố ăn 1 hoặc 2 loại vào bữa trưa. Mỗi loại cần một lượng không nhiều. Ví dụ, một ngày cà rốt cần nửa chén hoặc 6 củ cà rốt non, trái cây có thể là nửa trái cam…

2. Kiểm soát lượng chất béo. Trẻ cần một ít chất béo trong khẩu phần ăn mới có thể khỏe mạnh – cũng giúp giữ cảm giác no – nhưng không nên ăn quá nhiều. Chất béo có trong bơ, dầu, phô mai, hạt, thịt. Những món ăn trưa chứa lượng chất béo cao như món chiên, hotdog, burger phô mai, mì ống phô mai, thịt gà miếng rán. Cũng đừng lo lắng khi thích ăn những món đó! Không thức ăn nào là hại cả, nhưng cần ăn chúng ít thường xuyên hơn với khẩu phần nhỏ hơn. Những món ăn ít chất béo thường là nướng. Vài loại thức ăn ít béo nhất là trái cây, rau củ, sữa không bơ và sữa ít béo.

3. Dùng nhiều ngũ cốc nguyên chất, gồm bánh mì, lúa gạo, mì sợi,... Xét về lợi ích dinh dưỡng, ngũ cốc nguyên chất tốt hơn ngũ cốc đã qua tinh chế. Điểm khác nhau là gì? Gạo lức là một loại ngũ cốc nguyên chất, nhưng gạo trắng thì không phải. Cũng như bánh mì làm từ lúa mì chứa ngũ cốc nguyên chất, trong khi bánh mì bình thường thì không.

4. Ăn uống hợp lí. Không chỉ là việc ăn gì – cả uống cũng vậy! Sữa vẫn luôn là thức uống ưa thích vào buổi trưa. Nếu bé không thích sữa, hãy cho bé uống nước. Tránh uống nước ép và soda.

5. Cân bằng bữa trưa. Khi nói về những bữa ăn cân đối - những bữa ăn gồm một hỗn hợp các nhóm thức ăn: một ít ngũ cốc, một ít rái cây, một ít rau, một ít thịt hoặc những món chứa protein, và một ít thức ăn thường ngày như sữa và phô mai.

6. Kiểm soát toàn bộ bánh snack. Nhiều trường học có bán sẵn snack mặn, kẹo và soda. Ăn những loại thức ăn này trong thời điểm khác sẽ ổn hơn khi ăn vào bữa cơm trưa.

7. Đa dạng món ăn. Mỗi ngày đều ăn cùng một bữa trưa? - Nếu đó là hotdog, đã đến lúc thay đổi thói quen ăn uống hằng ngày. Giữ chồi vị không bị lờn và thử những mùi vị mới. Ăn nhiều loại thức ăn khác nhau cung cấp đa dạng dinh dưỡng cho cơ thể.

8. Nếu cảm thấy no, bé có thể ngừng ăn, không nên ép bé.

9. Một vài nhắc nhở khi bé dùng bữa: nhai kĩ, không nói chuyện khi ăn, dùng muỗng đũa riêng, để khăn ăn trên vạt áo, ăn lịch sự, và không đùa nghịch với thức ăn của người khác.
10. Cho dù có làm gì trong bữa ăn, đừng chọc cười khi bé đang uống sữa, điều này sẽ làm bé sặc sữa và hậu quả sau đó thật khó lường.

Bác sĩ Mary L. Gavin
North Carolina Children’s Hospital
Biên dịch tổng hợp: Lam Tuong Nguyen

12 thg 11, 2013

Một số hiểu biết cơ bản về bệnh BẠCH CẦU LYMPHO CẤP.


Bệnh bạch cầu lympho cấp tính là một trong những loại ung thư nguy hiểm thường gặp ở trẻ em xảy ra khi tủy xương sản sinh quá nhiều lượng tế bào lympho chưa trưởng thành (một loại tế bào máu trắng). Đây là loại ung thư thường diễn biến nghiêm trọng và phát triển nhanh chóng nếu không được điều trị kịp thời.

1. Những nguy cơ gây bệnh:
• Do tiếp xúc với X-quang và các loại bức xạ trước khi sinh.
• Trẻ đã từng điều trị bằng hóa trị trong quá khứ.
• Những biến đổi bất thường của gen.
• Trẻ có những điều kiện di truyền nhất định như hội chứng Down, mất điều hòa - telangiectasia hoặc hội chứng Shwachman.

2. Một số dấu hiệu đặc trưng của bệnh bạch cầu lympho cấp: 
• Sốt .
• Dễ bầm tím hoặc chảy máu.
• Chấm xuất huyết (các đốm đen - đỏ dưới da gây ra bởi chảy máu) .
• Đau xương hoặc đau khớp .
• Xuất hiện những khối u không đau ở cổ, nách, bụng hoặc háng.
• Đau hoặc cảm giác đầy chướng dưới xương sườn.
• Mất cảm giác ngon miệng, cơ thể mệt mỏi và yếu hơn.

3. Để chẩn đoán sớm bệnh, bác sĩ thường đề nghị các xét nghiệm và thủ tục như sau
• Kiểm tra toàn bộ cơ thể để phát hiện các dấu hiệu bất thường về sức khỏe như khối u hoặc vết nhỏ xuất huyết.
• Tiến hành lấy mẫu máu để kiểm tra kỹ lưỡng các yếu tố sau:
- Số lượng tế bào hồng cầu và tiểu cầu.
- Số lượng và loại của các tế bào máu trắng .
- Số lượng hemoglobin ( các protein vận chuyển oxy ) trong các tế bào máu hồng cầu.
• Ngoài ra, bác sĩ có thể chỉ định sinh thiết tủy xương bằng cách chèn một kim rỗng vào xương chậu hoặc xương ức nhằm mục đích tách và quan sát tủy xương , máu và xương dưới kính hiển vi để tìm những dấu hiệu của bệnh ung thư. Bên cạnh đó, bác sĩ còn có thể quan sát những thay đổi nhất định trong các nhiễm sắc thể trong tế bào lympho hoặc số lượng bất thường của một chất đánh dấu bệnh ung thư trong các mô sống thông qua các xét nghiệm sinh hoá.
• Chụp x-quang của các cơ quan và xương bên trong ngực để làm rõ các hình ảnh bên trong cơ thể, quan sát những thay đổi bất thường.

4. Nếu đã mắc bệnh bạch cầu lympho cấp, cơ hội hồi phục của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào những yếu tố sau đây:
• Tuổi lúc chẩn đoán, giới tính và chủng tộc.
• Số lượng tế bào máu trắng lúc chẩn đoán.
• Tế bào bạch cầu có nguồn gốc từ tế bào lympho B hay tế bào lympho T.
• Liệu có những thay đổi nhất định ở nhiễm sắc thể của tế bào lympho hay không.
• Trẻ có hội chứng Down hay không.
• Bệnh bạch cầu đã lan đến não, tủy sống hoặc tinh hoàn hay chưa.
tủy xương.

Biên tập thực hiện từ nguồn www.cancer.gov 
(Phương Anh)

 

Copyright @ 2013 CLB tình nguyện Bé khỏe bé ngoan..